Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Hướng Dẫn Nấu Món Thịt Dê Tái Chanh

Cách làm dê tái chanh
Thịt dê là món đặn sản được nhiều người lựa chọn cho những bữa nhậu và cũng là sự lựa chọn của các bà nột trợ dành cho đức lang quân của mình. Hãy tham khảo cách làm món thịt dê tái chanh.
 
Nguyên liệu:
 
- Thịt dê đùi 500gram
- Củ sả 3cây
- Vừng rang 50gram
- Rau húng 1bó
- Rau ngổ 1bó
- Gừng,chanh,ớt qủa,lá chanh
- Bột canh,muối,đường,dấm,tương bần
 
Cách chế biến:
 
Bước 1-Thịt dê thui rửa sạch,cho vào nồi luộc chín với nước lạnh+ít muối, gừng sả đập giập.Nếu ko thích luộc có thể hấp chín thịt nhưng phải ướp thịt chung với gừng sả băm nhỏ và gia vị.
 
Bước 2-Rau húng chó,rau ngổ nhặt rửa sạch và để khô ráo nước. Gừng gọt vỏ, thái chỉ.Sả bóc bỏ lớp vỏ bên ngoài,thái lát mỏng. Lá chanh rửa sạch, thái chỉ.Ớt qủa thái miếng. Chanh qủa vắt lấy nước cốt.
 
Bước 3-Thịt dê luộc chín, vớt ra cho ráo nước và để thật nguội mới đem thịt đi thái miếng mỏng. Trộn thịt dê với 1 thìa cafe bột canh,gừng + lá chanh thái chỉ, sả , ớt miếng, nước cốt chanh, bóp đều hỗn hợp cho ngấm gia vị và rắc vừng rang vào.
 
Bước 4-Xúc thịt dê ra dĩa, pha bát tương bần+ chút đường,gừng thái chỉ.Ăn kèm với rau ngổ và húng cây.
 
dê tái chanh
 

Các Loại Hạt Giống Cỏ Chăn Nuôi Dê,Cừu,Trâu Bò...


1. HẠT KEO DẬU
Keo dậu hay keo giậu (danh pháp khoa học: Leucaena leucocephala), còn có tên khác là táo nhơn, bọ chét, bình linh, keo giun, là một loài cây gỗ nhỏ, loài cây này tại Việt Nam thường được trồng làm hàng rào nên người ta thường gọi là keo giậu.Quả và lá keo dậu có thể dùng làm thức ăn bổ sung đạm rất tốt, tăng năng suất cho chăn nuôi gia súc, gia cầm. Bột keo dậu là thức ăn bổ sung caroten, vitamin, khoáng chất cho gia cầm và gia súc non. Lượng protein trong lá keo dậu khá cao (270 - 280 g/kg), tỷ lệ xơ thấp (155 g/kg) và hàm lượng caroten khá cao (200 mg). Do khả năng sinh thái có thể tái sinh hạt rất tốt nên người ta thường sử dụng keo dậu làm 1 loài cây tiên phong phục hồi rừng. Hạt keo dậu sẽ được gieo vãi trên đất mất tính chất đất rừng, keo dậu nảy mầm và sẽ cải tạo dần tính chất đất ở đây, tạo hoàn cảnh cho các loài cây gỗ khác có thể sinh trưởng.
Ngoài ra keo dậu còn là cây dùng để cố định đạm, làm cọc tiêu.
Kỹ thuật trồng cây keo dậu
Keo dậu thuộc họ đậu, thân bụi hoặc thân gỗ lâu năm. Thời gian trồng tốt nhất là vào tháng 4
• Chuẩn bị đất
Có thể trồng keo dậu ở ruộng tập trung, trên bờ bụi, bờ mương máng hoặc trong vườn, làm hàng rào. Cần chú ý chọn loại đất thoát nước, ít chua. Nếu trồng tại ruộng thì chuẩn bị đất như khi trồng các loại đậu đỗ khác. Sau khi cày bừa và làm đất tiến hành lên luống rộng 3 m, rạch các hàng trên luống cách nhau 70 - 80 cm, sâu khoảng 10 cm.
• Phân bón
Mỗi hecta cần 10 tấn phân chuồng, 300 kg phân lân nung chảy và 150 kg clorua kali. Các loại phân này dùng bón lót toàn bộ trước khi bừa lần cuối và mỗi năm bón một lần vào vụ xuân.
• Cách trồng và chăm sóc
1ha cần khoản 20kg hạt keo dậu khô
Trước khi gieo, cần xử lý hạt như sau: làm ướt hạt bằng nước lã, sau đó đổ nước nóng 90 - 1000C vào và ngâm trong vòng 5 phút. Bước tiếp theo là gạn hết nước nóng và đổ nước lã vào cho ngập hạt, ngâm tiếp 5 - 10 giờ, rồi lại gạn hết nước và để hạt thật khô ráo, trước khi đem gieo. Gieo hạt theo hàng rạch, trung bình 1m dài gieo 20 hạt (lượng hạt khô cần cho mỗi hecta khoảng 20 kg), lấp đất sâu khoảng 5 cm. Cũng có thể gieo hạt vào bầu đất hoặc vườn ươm, sau đó, khi cây mọc cao khoảng 45 cm thì mang đi trồng (trong trường hợp trồng làm hàng rào) như các loại cây gỗ khác; trồng cây cách cây 50 cm.
Sau khi trồng khoảng 10 ngày, kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, nếu cần thiết thì gieo hoặc trồng dặm lại. Dùng cuốc xới xáo nhẹ theo hàng và làm sạch cỏ dại hai đợt: lúc 15 ngày và lúc 40 ngày sau khi trồng.
• Thu hoạch và sử dụng
Sau khi trồng khoảng 4 -5 tháng, có thể thu hoạch lứa đầu (tuỳ theo đất đai và điều kiện chăm sóc, lúc đó cây có thể cao tới 1,5 m). Khi thu hoạch lứa đầu, cắt gốc cách mặt đất 70 cm. Các lứa tiếp theo cắt chừa lại cành mới tái sinh 5 cm và cứ sau khoảng 45 ngày cắt một lần. Có thể sử dụng keo dậu như nguồn thức ăn tươi xanh (cắt về cho gia súc ăn tại chuồng hoặc chăn thả trên bãi trồng keo dậu). Cũng có thể phơi sấy khô, nghiền thành bột.
Keo dậu là cây có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein (protein thô 21 - 25%). Đây thực sự là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị không những cho gia súc mà cho cả gia cầm. Với bò sữa, keo dậu cũng là loại thức ăn rất tốt, làm tăng năng suất sữa lên 10 - 15%. Có thể trộn vào thức ăn tinh cho mỗi con bò sữa mỗi ngày 1,0 - 1,5 kg bột keo dậu.

1. CỎ MULATO 2
Cỏ Mulato II có tên khoa học là Brachiaria ruziziensis, là giống cỏ lai được nhập từ Thái Lan, có thể khai thác 6-7 năm mới phải trồng lại. Cây thân bụi, rễ chùm nên khả năng chịu hạn tốt. Cây cao 80-100cm, thân mềm, lá mềm, rất thích hợp với khẩu vị của gia súc, đặc biệt là bò sữa. Đây là giống cỏ không kén đất, chịu hạn tốt, thích hợp với hầu hết các vùng sinh thái của nước ta. Cỏ Mulato II đẻ nhánh và tạo thảm cỏ rất nhanh từ các đốt thân sát mặt đất, cho sản lượng cao có thể đạt 200-250 tấn/ha/năm, hàm lượng chất khô từ 19-22% và đạm từ 14-16%. Khi cho bò sữa ăn sẽ cho sản lượng và chất lượng sữa cao hơn các giống cỏ khác.
KỸ THUẬT TRỒNG CỎ MULATO 2
- Thời vụ: Với các tỉnh phía Nam có thể gieo, trồng quanh năm, trừ những thánh mưa to; với các tỉnh phía Bắc thời vụ tốt nhất là từ 15/3 - 15/8.
- Chuẩn bị đất: Chọn nơi đất tốt, dễ thoát nước, gần nguồn nước, thuận tiện tưới tiêu để trồng. Đất được cày bừa, nhặt sạch cỏ dại, tạo hệ thống mương rãnh thoát nước nếu là đất bằng.
- Bón lót cho mỗi héc a trước khi trồng: 20 tấn/ha phân chuồng được ủ hoai mục + 400 - 500 kg phân supe lân + 150 - 170 kg phân kali. Bổ sung đạm urê trước và sau khi trồng với lượng từ 300 - 350 kg/ha bằng 2 hình thức trộn đều với các loại phân khác để bón hoặc hòa nước để tưới sau khi cây đã mọc chồi mới.
- Cách trồng: Nếu gieo hạt (12 - 15 kg/ha), rạch hàng sâu 5-7 cm cánh nhau 40- 50cm, trộn hạt giống với cát khô gieo vãi theo hàng cho đến thành khóm cách nhau 25 - 30 cm. Dùng cành cây có lá kéo khua để lấp một lớp đất mỏng hoặc lấp một lớp đất mỏng ,mịn khoảng 1cm. Nếu trồng bằng hom thì cắt hom giống dài 20 - 25 cm từ các ruộng cỏ khỏe mạnh, đang trong thời kỳ thu hoạch để trồng. Trên mỗi hàng trồng các hom (4 - 6 rãnh/hom) cách nhau từ 20 - 25 cm, sâu 5 - 6 cm, dùng tay dện chặt gốc, tưới đẫm nước sau khi trồng. Nên thu hom và trồng vào những ngày trời mát hom sẽ đỡ mất nước, nhanh bén rễ ra chồi mới.
Hạt giống cỏ mulato 2
Xuất xứ: Thái Lan

2. CỎ ALFALFA
Cỏ Alfalfa- cỏ Linh Lăng còn có tên là mộc túc Braxin (tên khoa học là Lucern) là cây họ đậu, thân thảo có giá trị dinh dưỡng rất cao, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản... được thế giới rất quan tâm nghiên cứu đã trên 50 năm. Các nhà khoa học đã phát hiện trong cỏ Alfalfa có các thành phần như: các Acid amin, Vitamin, đạm, Protein, Betacaroten, Acid hữu cơ, Ancaloid, Fitoleid... Tất cả 12 acid amin không thay thế được đều có hàm lượng khá cao trong đó. Đặc biệt, Betacaroten đạt hàm lượng kỷ lục là 94,6 ppm. Các yếu tố vi lượng tự nhiên bảo đảm cho các vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng bệnh mạnh, không có các phản ứng phụ.
Với hàm lượng Betacaroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10% đến 20% trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng đỏ to, màu đỏ đậm, tỉ lệ nở con cao hơn hẳn. Nhờ các chất Ancaloid- enzim dồi dào trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn loại cỏ này sẽ tiết sữa nhiều và chất lượng sữa tốt hơn. Người ta dùng nó làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi quan trọng như: Bò đực sản suất tinh, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim cảnh... Do những tác dụng lớn lao đó, nên các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới đã suy tôn cỏ Alfalfa là “Nữ hoàng” trong thức ăn chăn nuôi.
Ngoài ra, ở một số nơi như: Đài Loan, úc, Braxin, Hà Lan, Nga, Tây Ban Nha, Cu Ba, cỏ Alfalfa còn là món ăn không thể thiếu trong khẩu phần ăn thường nhật của con người. Thổ dân một số nước châu Mỹ La tinh thường dùng loại cỏ này để chữa bệnh suy nhược cơ thể, bệnh gan, tim, tiêu hóa... Người Mỹ cũng dùng loại cỏ này để sản xuất thuốc phục vụ cho sức khỏe con người, thuốc tăng lực Alfalfa được phục vụ đặc biệt cho nghành thể dục thể thao.
Loại cỏ tốt để nuôi Dê - Bò và gia súc. Nói đến cỏ để chăn nuôi giới chăn nuôi không thể bỏ qua Alfalfa loại cỏ có 3cánh lá, hoa tím mọc chuyển tiếp liên tục từ 3 cho đến 12 năm tuỳ theo điều kiện thời tiết mát mẻ...rễ có thể ăn sâu từ 4,5 mét.Alfalfa nên trồng xen canh với bắp hạt, đậu hạt nhằm điều tiết dinh dưỡng cho sức sinh sản cuả nó. Đây là một loại cỏ chứa nhiều protein cho nên đã được Bộ Canh Nông các quốc gia trên Thế Giới xếp vào danh mục cây cỏ quan trọng dùng chăn nuôi gia súc sản xuất sữa như: bò- dê – trâu và gia súc sản xuất thịt như: trừu (cừu) - dê – bò.Theo phân khoa Canh Nông Đại Học California Hoa Kỳ nghiên cưú và thực nghiệm: Alfalfa mọc tốt trên các loại đất có nồng độ PH 6.8- 7.5 và gieo hạt từ 15 đến 20kg cho một ha. Alfalfa cần nhiều k3CO3 (Potassium carbonate) cho nên tốt khi trồng trên đất mặn. Để có thực phẩm dự trữ vào các mùa hạ khô hay muà đông ,Alfalfa được cắt bó thành từng tảng vuông hay cuốn tròn để dự trữ tránh tình trạng uá tàn và hoá sơ cỏ. Những tảng dài chữ nhật nặng chừng 25kg đến 35kg được xếp vào kho cho khô tránh ánh sáng hủy hoại màu xanh diệp lục tố , còn những tảng cuộn tròn nặng chừng 200kg đến 1 tấn được để ngoài cánh đồng nhưng được bao plastic dày tránh bị mưa làm hư thối . Hàng năm những cánh đồng trồng Alfalfa Lucerne ở Hoa Kỳ- Úc và Châu Âu vào những muà Hạ khô hay Đông giá rét giá những tảng Alfalfa còn xanh chữ nhật bán rất chạy mặc dù giá cao. *Giá trị dinh dưỡng: Lucerne Alfalfa chứa nhiều protein, calcium và các nhóm khoáng chất có giá trị sinh trưởng cho các động vật kể cả con người, thêm vào đó các loại sinh tố A,các sinh tố nhóm B , C , D , E và K cũng được tìm ra trong Alfalfa. Song song với việc trồng Lucerne Alfalfa trên những cánh đồng bạt ngàn tắp tít ,người ta còn nuôi ong lấy mật trên hoa Alfalfa tạo thêm nhiều nét đặc lợi trong mật ong làm thực phẩm cho con người. *
- Cỏ Alfalfa được biết đến như một loại thức ăn cao cấp cho bò sữa cao sản với đặc tính nổi trội là có hàm lượng Protein cao (19 -22%) và hàm lượng xơ đặc biệt dễ tiêu hóa.
Kỹ thuật trồng cỏ alfalfa:
Cỏ Alfalfa trồng bằng hạt, 15-20 kg hạt giống / ha, thích nghi với chân đất không ngập nước, độ pH của đất trồng thích hợp từ 5,6 - 7,5, Cỏ Alfalfa trồng bằng hạt, 15-20 kg hạt giống / ha, Hạt Giống Cỏ Alfalfa trồng vào đầu mùa xuân, đất trồng không cần bón đạm. Năng suất có thể đạt tới 300 tấn / ha nếu được chăm sóc tốt.
Yêu cầu làm đất kỹ như trồng cỏ voi (cầy, bừa hai lần), cầy sâu 15 - 20 cm, bảo đảm đất tơi nhỏ, hạt đất có đường kính dưới 1cm chiếm 70 - 80%, hạt đất có đường kính 2 - 5 cm chỉ chiếm 20 - 30%. Làm sạch cỏ dại. Giữa hai lần cày bừa nên cách nhau 10 -15 ngày để diệt được nhiều mầm cỏ dại trước khi gieo trồng.
Lượng phân bón trên mỗi hecta là: 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 300 - 350 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 100 - 150 kg clorua kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 50 kg urê - bón thúc khi cây đạt độ cao 5 - 10 cm; Nếu đất chua thì bón lót thêm vôi (0,5 tấn vôi/ha khi pH < 5 và 1,0 tấn vôi/ha khi pH = 5,0 - 5,5). Cách bón: rải đều khi cầy bừa.
CỎ GHI NÊ :
giống cỏ sinh trưởng mạnh, năng suất cao, khả năng chịu hạn, chịu nóng và chịu bóng cây tốt, dễ trồng
1. Đặc điểm
Cỏ Ghinê còn gọi là cỏ sả, một số nơi còn gọi là cỏ Tây Nghệ An hay cỏ sữa. Cỏ Ghinê là loại cây lâu năm, thân cao tới 2-3 m, không có thân bò, chỉ sinh nhánh và mọc thành bụi như bụi sả. Bẹ lá mọc quanh gốc, có mầu tím, cả bẹ và lá đều có lông nhỏ và trắng
Cỏ Ghinê có nhiều đặc tính quý : sinh trưởng mạnh, năng suất cao, khả năng chịu hạn, chịu nóng và chịu bóng cây tốt, dễ trồng. Cỏ Ghinê sống được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là loại đất phù sa và đất có nhiều mầu. Chịu được đất mặn nhẹ và không chịu được đất ẩm kéo dài
Do cỏ Ghinê có khả năng chịu được hạn và bóng râm, nên có thể trồng xen với cây lâm nghiệp hoặc cây ăn quả, trồng ven bờ đê, ven đường, xung quanh ao cá, vừa phủ đất chống xói mòn và giữ ẩm, vừa tận thu chất xanh cho chăn nuôi dê rất tốt
Mỗi năm có thể thu hoạch 8-10 lứa và năng suất trên một ha có thể đạt 100-200 tấn
2. Kỹ thuật trồng
- Thời gian trồng :
Thời gian trồng từ tháng 2 - 4. Tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa để bảo đảm tỷ lệ sống cao. Thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 11. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm hoặc dài hơn (6 - 7 năm)
- Chuẩn bị đất :
Cỏ Ghinê phù hợp với chân ruộng cao, loại đất cát pha, không bị ngập nước hoặc ẩm nhiều. Cần cày vỡ đất ở độ sâu 20 cm, sau đó bừa và cày đảo (cày 2 lần), làm sạch cỏ dại và san phẳng đất. Trong trường hợp trồng bằng hạt thì đất phải làm tơi nhỏ hơn
- Phân bón :
Cho mỗi ha cần :
10-15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch
200-250 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch
150-200 kg sulphát kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch
200-300kg sulphát đạm - chia đều để bón thúc sau mỗi lần thu hoạch
- Cách trồng và chăm sóc :
Có thể trồng bằng hạt, hoặc dùng khóm thân rễ, trồng theo bụi. Nếu trồng bằng khóm theo bụi thì sau khi làm đất kỹ như nêu trên, dùng cày rạch thành hàng cách nhau 40 - 50 cm, sâu 15 cm. Trong trường hợp gieo bằng hạt thì chỉ cần rạch hàng sâu 10 cm. Mỗi ha cần lượng khóm 5 - 6 tấn, lượng hạt 8 - 10 kg
Cách chuẩn bị khóm giống như sau : cắt bỏ phần ngọn các khóm cỏ sả giống trên ruộng và để lại chiều cao khóm khoảng 25 - 30 cm. Dùng cuốc đánh gốc cỏ lên, rũ sạch đất, cắt phạt bớt phần rễ già. Sau đó tách thành những khóm nhỏ, mỗi khóm 3 - 4 nhánh đem trồng
Sau khi rạch hàng và bón lót phân, tiến hành trồng bằng cách đặt các khóm vào rãnh, ngả cùng một phía và vuông góc với thành rãnh, cách nhau 35 - 40 cm, lấp đất sâu khoảng 10 - 15 cm (1/2 độ dài của thân cây giống) và lưu ý dậm chặt đất, tạo điều kiện có độ ẩm, cây chóng nảy mầm và có tỷ lệ sống cao
Nếu trồng bằng hạt thì gieo rải đều theo hàng rạch và dùng đất nhỏ mịn lấp dầy 5 cm
Trong trường hợp trồng xen với cây ăn quả, trồng ven đường hoặc xung quanh bờ ao thì đào hốc sâu 15 cm, với khoảng cách hàng 40 - 50 cm và hố nọ cách hố kia 15 - 20 cm.
Sau khi trồng 15 - 20 ngày kiểm tra khả năng ra mầm chồi và nếu cần thiết thì trồng dặm lại. Đồng thời lúc này xới xáo qua, làm cỏ dại và bón thúc bằng đạm urê. Nếu gieo bằng hạt thì chỉ tiến hành chăm sóc và trồng tỉa bổ sung khi cây mọc và có thể phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn với cỏ dại . Sau mỗi lần cắt và khi thảm cỏ nảy mầm xanh lại làm sạch cỏ dại rồi dùng phân đạm bón thúc
3. Thu hoạch và sử dụng
Sau khi trồng được 60 ngày thì thu hoạch lứa đầu, cắt phần trên, cách mặt đất 10 cm. Các lứa thu hoạch sau cách nhau 40 - 45 ngày. Mỗi năm cắt dọn gốc già một lần. Cỏ Ghinê ăn rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao, không bị giảm chất lượng nhanh như cỏ voi.
Giá 1 kg hạt giống khô :

CỎ STYLO
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu, lưu niên, thân đứng hoặc bò. Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống. Thời gian gieo trồng tuỳ thuộc vào dùng cành giâm hay dùng hạt. Nếu gieo hạt, tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 3 - tháng 4, đối với miền Bắc và tháng 5 - tháng 6, đối với miền Nam). Nếu dùng cành giâm thì trồng vào giữa mùa mưa (tháng 7 - tháng 8). Thu hoạch từ tháng 6 - tháng 12. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm.
• Chuẩn bị đất
Yêu cầu làm đất kỹ như trồng cỏ voi (cầy, bừa hai lần), cầy sâu 15 - 20 cm, bảo đảm đất tơi nhỏ, hạt đất có đường kính dưới 1cm chiếm 70 - 80%, hạt đất có đường kính 2 - 5 cm chỉ chiếm 20 - 30%. Làm sạch cỏ dại. Giữa hai lần cày bừa nên cách nhau 10 -15 ngày để diệt được nhiều mầm cỏ dại trước khi gieo trồng.
Lượng phân bón trên mỗi hecta là: 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 300 - 350 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 100 - 150 kg clorua kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 50 kg urê - bón thúc khi cây đạt độ cao 5 - 10 cm; Nếu đất chua thì bón lót thêm vôi (0,5 tấn vôi/ha khi pH < 5 và 1,0 tấn vôi/ha khi pH = 5,0 - 5,5). Cách bón: rải đều khi cầy bừa.
• Cách trồng và chăm sóc
Có thể trồng cỏ theo hai cách:
+ Trồng bằng cành giâm: cắt cành dài 30 - 40 cm, có 4 - 5 mắt. Sau khi làm đất kỹ, rạch hàng sâu khoảng 15 cm, hàng cách hàng 45 - 50 cm. Trồng theo khóm, mỗi khóm 5 - 6 cành và các khóm cách nhau 25 cm. Lấp đất dày 5 - 6 cm để cành ngập trong đất 20 cm.
+ Gieo bằng hạt: sử dụng 5 - 6 kg hạt giống cho 1ha. Rạch hàng sâu khoảng 10 cm và hàng cách hàng 45 - 50 cm. Gieo hạt theo hàng rạch. Sau đó lấp lớp đất mỏng. Để cho cây chóng mọc, có thể ủ hạt trong nước nóng 60 - 700C, khi hạt nứt nanh thì đem gieo.
Cũng có thể gieo hạt trong vườn ươm và khi cây mọc cao 20 - 25 cm thì nhổ ra trồng theo rạch với khoảng cách cây cách cây 15 - 20 cm .
Khi cây mọc cao khoảng 5 - 10 cm thì tiến hành xới xáo cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại, đồng thời bón thúc bằng urê. Khoảng 2 tháng tuổi xới cỏ một lần nữa, tạo điều kiện cho cỏ phát triển tốt.
• Thu hoạch và sử dụng
Thu hoạch cỏ Stylo lứa đầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc cỏ cao khoảng 60 cm và thảm cỏ che phủ kín đất. Khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 - 20 cm. Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2 - 2,5 tháng, lúc cây cao 35 - 40 cm.
Cũng như các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giàu protein, là nguồn đạm lá quan trọng để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại. Ngoài ra, có thể dùng phối hợp cỏ Stylo với một số cây hoà thảo như cỏ voi, cỏ Xu đăng, cây ngô... làm nguyên liệu ủ ướp, nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ xanh. Cũng có thể phơi khô thân, lá cỏ Stylo, nghiền thành bột cỏ và sử dụng như nguồn bổ sung protein có giá trị, thay thế một phần thức ăn tinh.
Có thể sử dụng làm bãi chăn thả gia súc nhai lại. Tuy nhiên, do khả năng chịu dẫm đạp của cỏ Stylo kém hơn so với các cỏ hoà thảo khác như Pangola, Ghinê... nên thời gian chờ đợi giữa hai chu kỳ chăn thả sẽ dài hơn.
Giá: 720k/1kg
HẠT CHÙM NGÂY
Cây Chùm ngây, tên khoa học: Moringa oleifera L. thuộc họ Chùm ngây (Moringaceae). Chi này có 13 loài, nhưng loài phổ biến nhất là Chùm ngây hay (cải ngựa) và loài này có nhiều công dụng nhất. Cây thân gỗ mềm, cây có chiều cao từ 5-10m, nhiều cành nhánh, vỏ màu mốc xám, lá ba lần kép, màu xanh mốc, không có lông lá phụ hơi tròn, lá bẹ bao lấy chồi.
Hoa trắng, to giống hoa đậu, có 5 cánh hoa, tiểu nhị 5. Trái nang dài từ 25-35 cm, to từ 2-3 cm khi khô nở thành 3 mảnh có nhiều hột màu đen, có 3 cạnh xếp theo chỗ lõm của từng mảnh vỏ, có cánh mỏng bao xung quanh hột. Mùa hoa bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau và thu hoạch hột vào khoảng tháng 2 hằng năm.
Đặc tính sinh thái
Cây ưa sáng mọc nhanh, giai đoạn đầu ưa bóng nên có thể trồng xen, khi cây lớn điều chình ánh sáng, phân cành cao, vỏ màu hơi xanh khi còn non, màu trắng mốc khi cây đã già, tái sinh chồi mạnh với những nơi độ ẩm cao, đất xốp, tầng mùn dày, tái sinh hạt yếu. Cây chịu hạn tốt, chịu được những nơi đất xấu cằn cổi.
Phân bố
Chùm ngây là loài cây có nguồn gốc từ khu vực thuộc bang Kerala của Ấn Độ, nhưng nó cùng được trồng nhiều nơi như ở Đông Bắc và Tây Nam Châu Phi, bán đảo Ả Rập, Nam Á. Những vùng có lượng mưa thấp hằng năm. Chùm ngây có ở Việt Nam từ lâu đời, mọc hoang nhiều ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, cây phát triển phù hợp với độ cao dưới 700m. Ở An Giang, phát hiện cũng có mọc rãi rác một số nơi ở vùng Bảy Núi.
Công dụng
Chùm ngây rất giàu dinh dưỡng nhất là chất đạm, chất sắt, có chứa nhiều vitamin các loại.
Làm thực phẩm: Lá tươi chứa 6,35g% chất đạm, 1,7g% chất béo, 8g% chất bột đường, 1,9g% chất xơ và các chất khoáng khác (DS Phan Đức Bình)
Dược liệu: Thân, cành, vỏ, rễ chùm ngây đều có chứa moringinin trị các bệnh kháng sinh, kích thích tiêu hóa, kiết lỵ, phù nề, thấp khớp, huyết áp…
Khả năng làm sạch nước: Nghiền hột quấy đều trong nước sau 2 giờ thì nước trong dùng được, và còn nhiều công dụng khác.
Kỹ thuật thu hái hạt giống
Cây trồng trên 18 tháng bắt đầu ra hoa kết quả, độ tháng 02 hằng năm thì thu hái trái để làm giống. Nên lấy giống từ những lâm phần hoặc cây mẹ trên 06 tuổi trở lên. Cần lưu ý trong thu hái, chọn trái đã già, to, tròn đều, màu vỏ chuyển từ màu xanh sang màu thẩm mốc, không lấy những trái đã nứt, hoặc có sâu đục hoặc bị bệnh nấm, không bẻ cả cành mà nên có dụng cụ thu hái để chọn những trái đạt yêu cầu và giữ lại những trái chưa đạt để thu tiếp.
Chế biến hạt giống
Sau khi thu hái về phải rải đều ra trên tấm bạt, phơi ngoài nắng nhẹ, khi thấy trái đã có hiện tượng nứt thì đưa phơi trong bóng mát. Không phơi trực tiếp ngoài nắng vì hạt có dầu nên sẽ giảm tỷ lệ nẩy mầm, sau khi hạt đã bung ra hết khỏi trái thì sàng loại bỏ các tạp chất và thu hạt để đưa vô dụng cụ bảo quản
Bảo quản hạt giống
Là loại hạt có dầu nên công tác bảo quản đòi hỏi phải thực hiện tốt thì chất lượng giống mới đảm bảo. Sau khi loại bỏ các tạp chất và các hạt chất lượng xấu như hạt lép, hạt nhỏ, hạt bị sâu đục…Xong cho vào túi PE hàn kín để bảo quản lạnh ở nhiệt độ trung bình 100C. Chỉ sử dụng trong năm thì tỷ lệ nẩy mầm cao trên 75% nếu để sang năm sau tỷ lệ nẩy mầm chỉ còn 20-30%
Kỹ thuật gieo ươm giống
Xử lý hạt giống: Hạt giống được ngâm trong nước nóng ấm 2 sôi + 3 lạnh (gồm 2 ca nước sôi hòa đều với 3 ca nước lạnh) ngâm 12 giờ vớt ra cho vào túi vải, treo ráo nước sau 4 giờ thì rửa chua một lần. Khoảng 24 giờ sau thì hạt nứt nanh, đưa cấy vô túi bầu được chuẩn bị sẵn.
Túi bầu kích thước 9x12 cm được đục 4 lổ xung quanh túi bầu, cách đáy túi bầu khoảng 1,5 - 2cm. Thành phần ruột bầu gồm 60% đất pha cát, 30% xơ dừa hoặc tro trấu, rơm mục, 10% phân hữu cơ.
Che bóng bằng lưới chuyên dùng hoặc lá dừa. Giai đoạn đầu từ 50-60% ánh nắng, không chịu được nhiệt độ cao cây sẽ bị héo lá. Tưới nước: Ngày tưới 2 lần vào buổi sáng 8-9 giờ, buổi chiều 4-5 giờ, tưới vừa ướt túi bầu. Không tưới quá nhiều, cây sẽ bị thối rễ và chết.
Chăm sóc cây con trong vườn:
Thường xuyên làm cỏ phá váng cho cây và phân loại để có biện pháp chăm sóc cây tốt và phát triển đều. Cây được khoảng 1- 2 tháng tuổi thì tháo dàn che, từ từ đưa cây ra nắng để thích nghi và mau hoá gỗ cứng cây trước khi đưa đi trồng. Thời gian nuôi cây trong vườn ươm từ 4-6 tháng mới đưa đi trồng.
Kỹ thuật trồng cây Chùm ngây
a.Trồng đề làm rau xanh:
Nếu là mục đích trồng làm rau xanh cung cấp cho các cửa hàng siêu thị thì mật độ trồng 1m x 1,5m (cây cách cây 1m, hàng cách hàng 1,5m). Khi cây cao khoảng trên 01m thì cắt đọt, cây sẽ ra nhiều nhánh và tiếp tục cắt nhánh thì cây lại ra theo cấp số nhân, ta sẽ thu hoạch được lượng rau nhiều.
Thời vụ trồng: Thông thường đầu mùa mưa từ tháng 6-8 hằng năm là kết thúc. Không nên trồng quá trể, mùa khô đến cây sẽ bị chết nhiều.
Xử lý thực bì: Phát dọn sạch thực bì để hạn chế sâu bệnh hại và thuận lợi cho đào hố. Hố trồng cây: Đào hố theo quy cách 30 x 30 x 30cm. Đào trước 30 ngày, cho phân vào hố trung bình 2-3 kg phân hữu cơ hoai và lấp hố.
Trồng cây: Dùng cuốc xới đều dưới hố, xé túi bầu đặt cây ngay trung tâm hố, cây phải thẳng đứng, lấp hố ém đất xung quanh. Lấp theo hình nón úp đề cây không bị úng nước về mùa mưa sẽ bị chết nhiều.
Trồng để làm dược liệu
Nếu mục đích trồng làm dược liệu là chính thì nên trồng theo mật độ 3mx3m (hàng cách hàng 3m, cây cách cây 3m). Trồng theo nanh sấu, các nội dung khác thực hiện như trên. Hố trồng cây: Đào hố theo quy cách 40 x 40 x 40cm đào trước 30 ngày, cho phân vào hố trung bình 3 - 4 kg phân hữu cơ hoai và lấp hố.
Chăm sóc, bảo vệ
Giai đoạn đầu, cấm không cho gia súc, gia cầm vô khu vực trồng cây vì cây đang non, mềm dễ bị gãy và dậm đạp hư cây. Mùa khô, dọn sạch thực bì hạn chế bị cháy lan. Hằng năm có kế hoạch làm cỏ, xới vun gốc và bón phân cho cây.

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Các Món Ngon Từ Thịt Dê

Dê được chế biến thành các món ăn rất được ưa thích của nhiều người. Thịt dê gồm các thành phần Protein, mỡ đường, Vitamin B1, Vitamin B2, Niacin, Coban, Photpho, Sắt, Natri…
Thịt dê vị tươi ngon, có thể làm nhiều món ăn ngon như tái dê, dê áp chảo, dê hấp, xào lăn… là thức ăn bổ dưỡng cao cấp, tráng dương, ăn vào mùa đông giá lạnh là thích hợp nhất. Người có bệnh dương hư, người già thân thể gầy yếu ăn thịt dê là rất bổ ích.
Đông y cho rằng: Thịt dê tính nhiệt, vị ngọt mặn, có công hiệu bổ trung ích khí, an tâm, chỉ thống bổ thận, tráng dương, có thể chữa được bệnh dương nuy (liệt dương), thận hư, đau lưng, lạnh bụng, chân tay bải hoải rã rời.
1. Dê hấp lá tía tô
de-hap-la-tia-to
2. Dê hấp dâm dương hoắc
Lá Dâm Dương Hoắc
Dâm dương hoắc lá hình tim (Epimedium brevicornu Maxim), Dâm dương hoắc tá mác (Epimedium sagittum(Sieb et Zucc) Maxim), tất cả các loại trên đều được sử dụng trong y học cổ truyền với tác dụng bổ thận tráng dương giành cho nam giới. Tương truyền cây này trước đây được người dân cho dê đực ăn, thì sau đó dê đực có khả năng giao phối với dê cái rất nhiều lần trong ngày, từ đó cây được đặt tên làDâm dương hoắc.
Dâm dương hoắc phân bố chủ yếu ở miền rừng núi và có rất nhiều ở Trung Quốc, đây là cây thích hợp mọc ở vùng có khí hậu ôn đới. Ở Việt Nam, cây này xuất hiện tại các vùng núi cao biên giới giáp ranh với Trung Quốc, đặc biệt là ở Sapa.
Thành phần hóa học chủ yếu gồm: icariin; Benzen; Linoleic acid; Tannin; Oleic acid; Vitamin E; Acid palmitic; Flavonoids; Sterols.

3. Dê đốt ngãi cứu
Ngải cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu lục sậm, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng. Những lá ở ngọn có hoa không chẻ. Cây ngải cứu ưa ẩm, dễ trồng bằng cách giâm cành hay cây con.
Cây ngải cứu thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa. Ngải cứu có thể dùng để chế biến các món ăn hoặc được sao khô lên làm thuốc hoặc dùng tươi. Dù dùng ở bất kì hình thức nào thì cây ngải cứu cũng có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe và chữa bệnh trong đó có điều trị bệnh gai cột sống.
Với công dụng chữa gai cột sống, Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt, ngải cứu từ xưa được xem như bài thuốc hữu hiệu được rất nhiều người áp dụng.
Cây ngải cứu
4. Dê xối sả
Dê xối sả
5. Dê bóp thấu
Dê Bóp Thấu
6. Dê tái mè
Dê tái mè
7. Chạo dê
Chạo dê
8. Gỏi dê rau má
Gỏi dê rau má
9. Dê nướng ngũ vị
Dê nướng ngũ vị
10. Dê nướng riềng mẻ
Dê nướng riềng mẻ
11. Dê nướng Tây Bắc
Dê nướng Tây Bắc
12. Dê nướng ống tre
Dê nướng ống tre
13. Vú dê nướng chao
Vú dê nướng chao
14. Lẩu dê
Lẩu dê
15. Dê tiềm thuốc Bắc
Dê tiềm thuốc Bắc
16. Dê tiềm bạch quả
Không “cao lương mỹ vị” như yến xào, bào ngư, hải sâm nhưng bạch quả đã được xem là món ăn vô cùng bổ dưỡng cho cơ thể con người. Tuy xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng bạch quả đã du nhập trở thành bài thuốc quý cho người Việt Nam trong thời gian gần đây.
Bạch quả được trồng ở Trung Quốc cách đây 3.000 năm, có nguồn gốc ở tỉnh Triết Giang. Từ năm 1995, Việt Nam đã nhập hạt bạch quả từ Nhật Bản và Pháp về trồng ở Sa Pa (Lào Cai), nhưng cây sinh trưởng rất chậm. Bộ phận dùng làm thuốc là lá (phơi hay sấy khô).
Các nhà khoa học thuộc đại học Johns Hopkins của Mỹ gần đây đã công bố nghiên cứu, cho biết một số chất chiết xuất từ lá bạch quả có tác dụng ngăn ngừa điều trị bệnh tai biến mạch máu não do trúng gió gây nên. Ngoài ra, các nhà khoa học còn phát hiện lá bạch quả có thể giúp nâng cao hàm lượng HO – 1mRNA trong hồng cầu. Mà HO – 1mRNA lại có tác dụng chống oxy hóa nên có thể giúp cho tế bào tự miễn dịch được. Khi nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng của lá bạch quả, họ cũng khẳng định rằng các hoạt chất trong bạch quả có tác dụng bổ não, chống lão hóa, kém trí nhớ, trị chứng ngủ gật, hay cáu gắt ở người cao tuổi.
Bạch quả
17. Ngọc dương tiềm thuốc Bắc
Ngọc dương

18. Cà ri dê
Cà ri dê
19. Dê xào lăn
Dê xào lăn
20. Dê cháy sả
Dê cháy sả
21. Dê cuộn lá lốt
Dê cuộn lá lốt
22. Dê cháy rượu
Dê cháy rượu
23. Dê xốc sả
Dê xốc sả
24. Dê rang muối
Dê rang muối
25. Dê cuộn lá sương xông
Dê cuộn lá sương xông
26. Dê áp chảo
Dê áp chảo

Bệnh chướng hơi và cách chữa trị ở Dê Cừu

Triệu chứng: Dê bồn chồn, khó chịu, chân sau cào đất, kêu la, đầu bay ngoảnh về phía bụng trái. Phía bụng trái càng to, phồng hẳn ra ngoài, gõ vào nghe thấy âm trống. Cũng có trường hợp bên phải bụng cũng căng lên nhưng bướng về phía trước. Nhu động dạ cỏ yếu dần và mất hẳn. Niêm mạc mắt, mồm chuyển từ đỏ hồng sang tìm tái. Điều đó biểu hiện cơ thể bị thiếu ôxy và con vật sắp chết.
Nguyên nhân và cách gây bệnh
Đây là hội chứng rối loạn tiêu hoá chủ yếu do thức ăn, như cho dê ăn nhiều thức ăn bị ôi, mốc, thức ăn dễ lên men sinh bơi như dây lang, lạc, hay do thay đổi khẩu phần ăn đột ngột. Ngoài ra còn do kế phát từ một số bệnh như cảm lạnh, dính nước mưa, viêm ruột, bội thực dạ cỏ v.v...

Về cơ bản chướng hơi là sự ngăn cản quá trình tống hơi ra khỏi dạ cỏ và thường xảy ra đột xuất. Hơi có thể ở dạng tụ do hay lẫn với dịch dạ cỏ (chướng hơi bọt). Nếu không thoát hơi ra được, dạ cỏ sẽ căng to đè vào cơ hoành chèn ép phổi gây trở ngại cho tuần hoàn và hô hấp, thậm chí dẫn đến gia súc chết do thiếu  ôxy trong máu.
Điều trị và phòng bệnh
Điều trị kịp thời là rất cần thiết. Bắt gia súc đi lại buộc đoạn gỗ nhỏ ngang mồm để nó nhai và xoa bóp vùng bụng để kích thích quá trình nhu động và ợ hơi.
Dùng dấm tỏi (100-150ml) hay củ tỏi giã nhỏ hoà rượu (40ml) cho uống cũng có tác dụng ức chế sự sinh hơi . Có thể sử dụng dầu ăn cho uống (100- 150ml) cũng có tác dụng tốt. Nếu ở dạng nguy kịch dùng troca nhỏ hay kim 16 chọc dò dạ cỏ cho thoát hơi ra ngoài. Biện pháp phòng tốt nhất là tránh cho ăn các loại thức ăn để lên men và thức ăn bị kém phẩm chất.
(TVKHCN

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI DÊ BÁCH THẢO



Giống dê Bách Thảo: chủ yếu là màu lông đen. Hiền lành, ăn tạp, năng suất cho thịt sữa cao, tầm vóc cao to, đầu dài trán lồi, sống mũi dô, tai to rủ, có hoặc không có sừng. Dê sinh sản nhanh, tuổi phối giống lần đầu 7-8 tháng, cứ 7 tháng đẻ 1 lứa, dê nuôi thịt sau 6 tháng đạt 20kg, nuôi lấy sữa đạt 1,0kg gấp 3 lần dê cỏ.
1 - Cách chọn giống
- Dê cái là con của dê bố mẹ cho nhiều sữa, mắn đẻ, đẻ con sai, nuôi con khéo,dê mau lớn, ngoại hình thanh mảnh, đầu nhỏ nhẹ, mình dài, phần sau phát triển hơn phần trước, da, lông mỏng mịn, bầu vú to, đều, mềm mại.
-  Chọn dê đực nên chọn đực giống là dê Bách thảo hoặc dê lai Bách Thảo có tầm vóc to, hăng hái, khoẻ mạnh, không khuyết tật, đầu to ngăn, thân hình cân đối, bắp nở đều, hai hòn cà đều cân đối, chọn dê con tăng trọng nhanh…

2- Phối giống:
Để tránh đồng huyết, hằng năm cần chuyển đổi đực giống hợp lý. Tuổi phối giống lần đầu đối với dê cái trên 7 tháng tuổi, dê đực 8-9 tháng. Cứ 21 ngày dê cái động dục 1 lần, mỗi lần 2-3 ngày. Phối giống vào ngày thứ 2 khi có biểu hiện động dục, dê cái ve vẩy đuôi, kém ăn, nhảy lên lưng con khác,….
3- Thức ăn cho dê
- Thức ăn thô: các loại lá như: mít, sắn, chuối,….và các loại cỏ tự nhiên, rơm khô.
- Thức ăn củ quả: sắn, khoai lang, bí đỏ,… rửa sạch thái mỏng cho ăn 0,2-0,8kg/con/ngày.
- Thức ăn tinh hỗn hợp: cám, gạo, ngô, bột đậu tương,… Tuỳ theo lứa tuổi, khả năng sinh sản và tiết sữa mà cho dê ăn từ 0,2-0,8kg/con/ngày.
- Phụ phẩm nông- công nghiệp: bã đậu phụ, vỏ giá đỗ xanh, bã bia,… cho ăn 0,3- 0,6kg/con/ngày.
4- Chăm sóc nuôi dưỡng
Dê Bách thảo chăn thả vào ban ngày, tối về chuồng cho ăn thêm cỏ, lá cây. Nuôi nhốt tại chuồng, vận động tại sân chơi, bảo đảm hằng ngày thức ăn phải đầy đủ, khô ráo, sạch không lẫn đất cát, không ôi mốc, nước sạch uống đầy đủ, quét dọn vệ sinh sạch sẽ, cách ly con đau ốm, không thả chung đàn.
a-      Chăm sóc dê hậu bị:
- Cho ăn 2-2,5kg lá cây, cỏ xanh non và từ 0,1-0,4kg thức ăn tinh/con/ngày. Chỉ chăn thả hay cho dê vận động khi trời đã tan sương, tách riêng dê đực 4 tháng tuổi ra nơi khác.
b -Chăm sóc dê chửa, dê đẻ
- Thời gian chửa 146-157 ngày. Trong thời gian chửa cần chăn thả dê gần chuồng, nơi đất bằng phẳng, tránh dồn đuổi, đánh đập và cách xa đực giốngđể tránh nhảy dê chửa, dễ gây sảy thai. Trước khi đẻ 5-10 ngày nhốt riêng dê chửa, dê sắp đẻ bầu vú căng sữa, bụng sa, dịch nhờn chảy nhiều ở âm môn, sụt mông, cho cỏ khô sạch lót ổ khi dê cái đẻ , chuẩn bị đỡ đẻ.
- Dùng khăn sạch mềm khô lau nhớt từ miệng, tai mũi và toàn thân cho dê sơ sinh. Thắt rốn bằng chỉ cách cuống rốn 4cm rồi cắt ngoài chỗ thắt, sát trùng rốn bằng cồn. Để dê con nằm ổ ấm bên mẹ cho đến 4 ngày tuổi, lau sạch bầu vú và phần âm môn dê mẹ. Sau đẻ 30 phút, hỗ trợ dê con bú sữ đầu, không cho dê mẹ ăn nhau thai. Đẻ xong cho dê uống nước ấm pha muối 0,5% và ăn cỏ, lá xanh non và thức ăn tinh không ôi thối, ẩm mốc.
- Dê Bách thảo từ ngày thứ 4-21 ngày tuổi, nuôi dê con trong cũi, bảo đảm ấm khi trời lạnh, chỗ nằm khô, sạch. Cho bú mẹ 3-4 lần/ngày. Khi 10 ngày tuổi tập cho dê con ăn thức ăn dễ tiêu thụ như cháo, bột ngô…tập cho ăn từ ít đến nhiều, không chăn thả theo đàn khi dê con dưới 21 ngày tuổi và dê mẹ trước và sau khi đẻ 7-10 ngày.
b-     Vắt sữa dê Bách thảo
- Vệ sinh khi vắt sữa: Rửa sạch tay và dụng cụ trước và sau khi vắt sữa. Dùng khăn sạch ướt rửa toàn bộ bầu vú. Lau sạch núm vú, tránh sây sát vú sau khi vắt hết sữa.
- Thao tác vắt sữa: Cố định người vắt, giờ vắt, không ồn ào khi vắt sữa. Thao tác vắt sữa nhẹ nhàng, đều đặn, thứ tự và nhanh. Sau đó buông tay ra để sữa xuống căng núm vú và lặp lại thao tác trên. sau cùng vuốt hết sữa đọng trong núm vú.
- Lịch vắt sữa: vắt sữa trước khi cho con vào bú mẹ. Vắt 1-2 lần, tuỳ lượng sữa mẹ và số dê con đẻ ra. Xử lý sữa: vắt sữa xong lọc qua 8 lớp vải màn sạch rồi đun cách thuỷ trong nước sôi khoảng 10-15 phút mới được sử dụng.
c-      Chuồng trại: Chọn nơi cao ráo thoát nước, ở cuối hướng gió, tránh gió lùa, chuồng nên làm hướng nam hay đông nam. Kiểu chuồng có thể nhốt chung có ngăn riêng hoặc chia làm nhiều ô nhỏ nhốt riêng từng con. Sàn chuồng làm bằng thanh tre nứa gỗ…bản rộng 2,5cm, cách nhau 1,5cm, cách mặt đất 0,6-0,8m; có máng ăn máng uống, sân chơi cao ráo, bảo đảm diện tích chuồng nuôi; dê trên 6 tháng 1,2m2/con, dưới 6 tháng 0,4-0,6m2/con.
d-     Phòng và trị bệnh: Định kỳ 6 tháng tiêm phòng các loại vắc xin tụ huyết trùng và tẩy giun sán cho dê. Hàng ngày kiểm tra 2 lần vào trước khi chăn thả và sau khi về chuồng phát hiện những con dê bỏ ăn, đau ốm loét miệng, chướng bụng đầy hơi để kịp thời trị bệnh.

Theo Khuyennongbacgiang.com

Nguyễn Hùng

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

Nuôi dê trên vùng đồi Biên Sơn-Bán Dê Giống Tại Bắc Giang

Tận dụng ưu thế địa phương có nhiều đồi núi và đồng cỏ rộng nên những năm qua, nhiều hộ dân ở xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) đã đẩy mạnh phát triển nghề chăn nuôi dê thương phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao… .
Đàn dê lai Bách Thảo của gia đình anh Nguyễn Trí Thường.
Nhận thấy ở địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc, nhất là nuôi dê nên đến đầu năm 2011, anh Nguyễn Trí Thường ở thôn Tuấn Sơn, xã Biên Sơn đã quyết định đi học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi dê từ một số mô hình ở trong và ngoài tỉnh Bắc Giang. Ngay sau khi nắm được những kiến thức cơ bản về kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh cho đàn dê, anh Thường đã quyết định đầu tư 160 triệu đồng mua 30 con dê giống lai Bác Thảo từ Trại giống Ba Vì, Hà Nội và xây dựng chuồng trại. Chỉ trong vòng 3 năm tập trung vào chăn nuôi, trừ số dê đã được bán thương phẩm mỗi năm lên đến cả trăm kg, đến nay, đàn dê lai Bách Thảo của gia đình anh Thường đã có hơn 70 con, trong đó có trên 40 con cái sinh sản và 2 con dê bố. Với giá bán dê thương phẩm tại địa phương hiện nay đạt 130 nghìn đồng/kg và dê giống được 200 nghìn đồng/kg, thì cả đàn dê của anh Thường có tổng trị giá ước đạt gần 300 triệu đồng.
Trao đổi với chúng tôi, anh Thường phấn khởi cho biết: Nuôi dê không tốn kém gì lại cho hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt là giống dê lai Bách Thảo có khả năng tăng trọng tốt, con trưởng thành có thể nặng tới 70 kg. Thông thường mỗi con dê cái trong 2 năm sẽ sinh sản 3 lứa, trung bình mỗi lứa dê đẻ được 2 con. Tính từ khi dê con được sinh ra, nếu nuôi thương phẩm chỉ trong vòng 6 tháng đã đạt từ 30 – 35 kg và được xuất chuồng. Việc duy trì chăn nuôi cả đàn dê hơn 70 con này, nhà tôi chỉ cần 1 lao động chăn thả đồi, rất nhàn.
Ông Vô Văn Trường, Chủ tịch UBND xã Biên Sơn trao đổi với chủ hộ chăn nuôi dê ở
địa phương
Tuy nhiên, muốn chăn nuôi dê hiệu quả thì người chăn nuôi phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng chuồng trại và phòng chống dịch bệnh cho chúng. Chuồng nuôi dê phải luôn khô ráo và bảo đảm thoáng mát vào mùa hè, giữ ấm vào mùa đông. Cùng đó, người chăn nuôi phải thường xuyên làm công tác vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng, đồng thời thực hiện tiêm phòng dịch bệnh cho đàn dê.
Ở xã Biên Sơn không chỉ có gia đình anh Thường chăn nuôi dê lai Bách Thảo cho hiệu quả kinh tế cao mà hàng chục hộ khác chăn nuôi dê ta (dê cỏ) cũng cho hiệu quả kinh tế khá. Tiêu biểu như gia đình: anh Trần Đình Quảng, bà Phùng Thị Sít ở thôn Dọc Song; anh Trần Thế Giảng; Nguyễn Trí Chiến ở thôn Tuấn Sơn… Mỗi hộ thường xuyên duy trì chăn nuôi đàn dê của gia đình từ 10 đến hơn 20 con, để tăng thêm thu nhập, phát triển kinh tế.
Tâm sự với chúng tôi anh Vô Văn Trường, Chủ tịch UBND xã Biên Sơn cho biết: Do địa hình xã có nhiều đồi núi và cánh đồng cỏ rộng nên Biên Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê, ngựa… . Đặc biệt là những năm gần đây, nhận thấy chăn nuôi dê có nhiều ưu điểm như: vốn đầu tư ban đầu không cần cao lắm; chăn nuôi không tốn kém nhưng lại cho hiệu quả kinh tế cao bởi thị trường đầu ra tiêu thụ dê thương phẩm luôn ổn định nên nhiều hộ dân đã đầu tư chăn nuôi dê, phát triển số lượng đàn. Theo số liệu thống kê tính đến hết tháng 2 năm 2014, tổng đàn dê của Biên Sơn đã có 1.570 con, tăng hơn 35% so với cùng kỳ năm trước. Thực tế mô hình nuôi dê tại địa phương đã giúp cho nhiều hộ dân xóa đói, giảm nghèo và vươn lên thành hộ khá, góp phần vào mục tiêu chung giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã từ 38,5% năm 2012 xuống còn 33,8% năm 2013. Để phong trào nuôi dê của địa phương phát triển bền vững, trong thời gian tới, UBND xã sẽ chỉ đạo đội ngũ cán bộ khuyến nông phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi dê cho nông dân. Cùng đó, xã sẽ tiếp tục quan tâm làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi, nhất là việc tổ chức tiêm phòng các loại dịch bệnh cho đàn dê, đồng thời tiếp tục tuyên truyền vận động nhân dân, tận dụng ưu thế về điều kiện có đồng cỏ rộng để phát triển chăn nuôi gia súc, nhất là nuôi dê./.
liên hệ mua giống dê 0916768104 ông Hoàng văn Quang
 Đức Thọ 

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2015

Dê Lai Bách Thảo & dê Boer

KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA DÊ LAI HƯỚNG THỊT GIỮA GIỐNG BOER VỚI BÁCH THẢO

KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA DÊ LAI HƯỚNG THỊT GIỮA GIỐNG BOER VỚI BÁCH THẢO
Đậu Văn Hải
PERFORMCES OF THE CROSSBRED GOAT BETWEEN
BOER AND BÁCH TH ẢO
Bach thao goat breed (BB) and its F1 crossbreds with Boer (OB) producted at Ruminant Reasearch and Traning Center and some farms in Binh Duong, Binh Phuoc provinces during 2002-2005. The results showed that: hairs colour of OB crossbred was over 92% similar Boer breed and 7% similar Bach thao breed. Average daily gain in body weights from birth to 6 months of age 85.38 g for BB and 111.68 g for OB, and from to 6-12 months of age 43.41 g for BB and 118.23g for OB. First kidding ages were 421.6 days for OB and 410.0 days for BB. Calving interval were 270.5 days for OB and 210.01 day for BB. The mortality rate of OB was under 14% from birth to 3 months of age. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời gian qua chăn nuôi dê phát triển rất mạnh, đặc biệt là các tỉnh miền Đông Nam Bộ, nhiều trang trại chăn nuôi dê với qui mô lớn được hình thành và phát triển. Theo số liệu của tổng cục thống kê thì tốc độ phát triển chăn nuôi dê, cừu ở các tỉnh phía Nam từ 2000 đến 2005 là rất nhanh. Năm 2000 số lượng dê, cừu chỉ chiếm 27,50% (152.625 con) tổng số lượng trong cả nước (miền Đông Nam Bộ chiếm 3,00%), nhưng đã tăng lên 38,20% (2004) và năm 2005 là 44,35% (582.872 con) riêng miền Đông Nam Bộ chiếm 18,85% (247.741 con).
Song song với việc gia tăng về số lượng thì chất lượng đàn dê cũng được nâng lên. Nước ta đã tiến hành nhập nội một số giống dê có tầm vóc lớn năng suất cao như: Alpine, Saanen, Barbari, Boer...   nhằm tiến hành lai tạo giữa các giống dê nhập nội với nhau và cải tạo đàn dê địa phương để tăng thêm nguồn gen quí và từng bước tạo giống dê sữa, thịt của Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Kết quả nghiên cứu trong nước như:
Nguyễn Thị Mai (2000), cho rằng mức độ cải tiến về trọng lượng của dê lai Alpine x Bách thảo và Bách thảo x (Alpine x Bách thảo) ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là 41,66 – 50,00% so với dê Bách thảo. Ưu thế lai của dê (Alpine x Bách thảo) cao nhất là lúc 9 tháng tuổi (31,20%) và thấp nhất lúc 24 tháng tuổi (5,60%) và dê lai Bách thảo x (Alpine x Bách thảo) cao nhất là lúc 3 tháng tuổi (7,30%) và thấp nhất là lúc 6 tháng tuổi (1,40%).
Con lai giữa giống Alpine, Saanen với Bách thảo cho trọng lượng cao hơn dê Bách thảo thuần từ 5-20% qua các giai đoạn tuổi, trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau (Đậu Văn Hải, 2001). Lê Văn Thông (2005) cho rằng,  dê lai F1 giữa giống Bách thảo với dê cỏ thể hiện ưu thế lai rõ rệt về tầm vóc, khối lượng, khả năng sinh trưởng cao hơn dê cỏ. Khối lượng dê lai F1 bằng 128,58% so với dê cỏ và bằng 82,65% dê Bách thảo.
Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát khả năng sản xuất của dê lai hướng thịt giữa giống Boer với Bách thảo”. Nhằm: So sánh khả năng sản xuất của nhóm dê lai F1 với Bách thảo trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng, từng bước chọn công thức lai phù hợp để tạo ra giống tốt hơn phục vụ cho người chăn nuôi và chọn ra con lai F1 có năng suất cao và phẩm chất thịt tốt làm cơ sở cho việc lai tạo giống và từng bước thay thế đàn dê năng suất thấp ở nước ta.
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.1 Thời gian và địa điểm
-          Đề tài được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Gia súc lớn (RRTC) xã Lai Hưng, Bến Cát, Bình Dương và một số trang trại tại các tỉnh Bình Dương và Bình Phước với các điều kiện:

Chỉ tiêu
Bình Dương
Bình Phước
Nhiệt độ không khí bình quân trong năm (oC)
28,5 (22,1-32,4)
26,0
Ẩm độ không khí bình quân (%)
76,7
80,0
Lượng mưa trong năm (mm/năm)
1869
2000-2300

 Ghi chú: Bình Dương: trạm khí tượng thuỷ văn Sở Sao
          Bình Phước: trạm khí tượng thuỷ văn Đồng Phú  
Thời gian thực hiện từ 10/2002 đến ngày 12/2005.
2.2 Đối tượng thí nghiệm
-          Dê lai F1 tạo ra bằng cách cho đực giống phối trực tiếp với dê cái, theo sơ đồ:
Boer (OO)    x Bách thảo (BB)                                        F1 OB
Bách thảo     x Bách thảo (BB)                                        BB (đối chứng)
-          Dê đực Boer nhập từ Trung tâm Nghiên cứu dê thỏ Sơn Tây (có nguồn gốc từ Mỹ). Dê mẹ được sử dụng để lai tạo là giống Bách thảo được chọn đồng đều về tuổi (10 – 12 tháng tuổi), trọng lượng (22 – 25 kg).
2.3 Phương thức nuôi dưỡng
Dê được nuôi theo phương thức bán thâm canh. Thời gian chăn thả từ 4-6 giờ/ngày, về chuồng bổ sung thức ăn với khẩu phần như sau:
Khẩu phần bổ sung tại chuồng cho dê cái sinh sản

Giai đoạn
Ngày
Cỏ, lá cây (kg)
Cám hỗn hợp (kg)
Nuôi con
75
4,80
0,50
Cạn sữa
125
4,80
0,00
Trước khi sanh
28
4,80
0,10

Khẩu phần bổ sung tại chuồng cho dê con bú sữa

Tháng tuổi
Sữa (ml/ngày)
Cỏ, lá (kg/ngày)
Cám hỗn hợp
g/ngày
1
500
Tập
50
2
650
Ăn
100
3
350
cỏ
150

Khẩu phần bổ sung tại chuồng cho dê tơ

Tháng tuổi
Cỏ, lá (kg)
Cám H. hợp kg/ngày
3
1,60
0,35
4
2,40
0,26
5
3,20
0,17
6
3,60
0,15
7
3,80
0,13
8
4,80
9
5,20
10
5,20
11
5,20
12
5,60

 Tẩy ký sinh trùng đường ruột theo từng loại và theo tháng tuổi

Loại
Lần 1
Lần 2
Lần 3
Dê con
2 tháng
4 tháng
12 tháng

Tiêm phòng bệnh truyền nhiễm lở mồm long móng (FMD) vào tháng 3-4 và tháng 9-10 hàng năm.
2.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Đặc điểm ngoại hình: màu sắc, hình dáng tai, có sừng hay không có sừng quan sát và ghi chép.
Khả năng sinh trưởng: kích thước các chiều đo: cao vai; vòng ngực; dài thân chéo: đo bằng thước dây, thước gậy cùng ngày cân trọng lượng.Khối lượng qua các tháng tuổi: cân hàng tháng bằng cân đồng hồ vào đúng ngày sinh của dê.
Chỉ tiêu sinh sản: động dục lần đầu, đẻ lần đầu, khoảng cách lứa đẻ, số con/lứa.
Tỷ lệ nuôi sống các nhóm dê.
2.5 Xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm đã được xử lý bằng phương pháp GLM (General Linear Modal) trong phần mềm SAS (Statistical Analysis System). Trung bình bình phương nhỏ nhất (Least Square mean) đã được hiệu chỉnh cho các yếu tố không thí nghiệm sẽ được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm dê (kiểu di truyền) đến các chỉ tiêu theo dõi và so sánh các giá trị trung bình.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm ngoại hình của các nhóm dê
Mỗi giống vật nuôi có đặc điểm ngoại hình khác nhau, nó truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và thể hiện khả năng thích nghi với nơi chúng sinh ra và lớn lên như màu sắc lông, hình dáng tai và tính trạng có sừng hay không sừng. Kết quả theo dõi được trình bày như sau:
3.1.1 Màu sắc lông của dê lai Boer với Bách Thảo (OB)
Nhóm dê lai OB có 92,50% số con có màu sắc lông hoàn toàn giống bố tức là phần thân có màu lông trắng, phần đầu và cổ có màu lông nâu hoặc đen; 7,00% có màu sắc lông giống màu lông của mẹ và 0,50% còn lại có màu lang trắng đen không giống bố, mẹ.
Giống Bách thảo có 100% số con sinh ra cùng thời gian với dê lai OB có màu sắc lông hoàn toàn giống bố mẹ (màu lông đen, mặt có sọc trắng và dưới bụng có màu lông trắng…).
Nguyễn Thị Mai (2000) cho rằng, ở thế hệ đầu tiên trước khi tiến hành chọn lọc, giống BB có màu lông đen mặt sọc trắng chiếm 69,23% và các màu còn lại là 30,77%.
3.1.2 Hình dáng tai
-          Dê bố giống Boer (4 con): hai tai cụp xuống hai bên má.
-          Dê giống Bách thảo (80 con): hai tai cụp xuống hai bên má.
-          Dê lai F1 OB 100% có hình dáng tai giống bố mẹ (tai cụp xuống hai bên má).
Nguyễn Thị Mai (2000) cho rằng, giống BB có hình dáng tai to cụp xuống ít cử động 89,74% ở thế hệ 0 và 94,44% ở thế hệ thứ 3. Trong khi đó tai hơi cụp xuống chiếm 10,26% ở thế hệ 0 và ở thế hệ thứ 3 là 5,56%.
3.1.3 Tính trạng có sừng, không sừng
Nhóm dê lai OB có 89,00% biểu hiện tính trạng có sừng giống bố, mẹ; 11,00% biểu hiện tính trạng không sừng giống dê mẹ và 100% số con lai không sừng này đều sinh ra từ những dê mẹ không sừng.
Qua quá trình chọn lọc tính trạng có sừng tăng lên từ 41,88% ở thế hệ 0 đến 51,11% ở thế hệ thứ 3, còn tính trạng không sừng giảm xuống từ 58,12% (thế hệ 0) và thế hệ 3 còn 48,89% (Nguyễn Thị Mai, 2000).
3.2 Khả năng sinh trưởng
3.2.1 Kích thước các chiều đo của các nhóm dê
Kích thước các chiều đo thể hiện sự sinh trưởng phát triển của đàn dê, mỗi giống dê sẽ có tầm vóc khác nhau, qua theo dõi thí nghiệm kích thước của các nhóm dê thể hiện ở bảng 1:
Bảng 1. Chiều đo vòng ngực, cao vai, dài thân chéo

Chỉ tiêu
Tuổi
Nhóm dê
(tháng)
OB
BB
n
X ± SE
n
X ± SE
Vòng
3
161
45,81a ± 0,31
182
44,85b ± 0,43
ngực
6
146
53,85a± 0,55
175
57,6b ± 0,66
(cm)
9
142
69,55a ± 0,66
173
64,46b ± 0,42
12
139
79,16a± 0,32
163
70,77b ± 0,53
Cao
3
161
45,72 ± 0,53
182
46,81 ± 0,43
vai
6
146
51,42 ± 0,71
175
53,54 ± 0,54
(cm)
9
142
61,63a ± 0,42
173
55,74b ± 0,42
12
139
65,42a ± 0,53
163
61,01b ± 0,54
Dài
3
161
48,83 ± 0,55
182
48,83 ± 0,43
thân
6
146
55,85 ± 0,42
175
53,46 ± 0,53
chéo
9
142
65,84a ± 0,76
173
57,14b ± 0,52
(cm)
12
139
67,27a ± 0,65
163
62,05b ± 0,43

Các số trong cùng hàng tận cùng bằng một chữ số không khác biệt ở mức P<0,05
Kích thước các chiều đo vòng ngực, dài thân chéo và cao vai của các nhóm dê lai tăng dần qua các tháng tuổi (3 – 12 tháng tuổi).
Chiều đo cao vai khi 3 và 6 tháng tuổi của nhóm dê lai OB cao hơn BB nhưng sai khác không có ý nghĩa. Lúc 9 và 12 tháng tuổi, chiều đo cao vai của nhóm OB lớn hơn nhóm BB (P<0,05).
Chiều đo dài thân chéo của nhóm OB và BB không có sự sai khác lúc đạt 3 và 6 tháng tuổi. Nhưng giai đoạn 9 và 12 tháng tuổi chiều đo dài thân chéo của nhóm OB cao hơn BB ở mức P<0,05.
Doãn Thị Gắng và ctv (2004) cho rằng kích thước chiều đo vòng ngực, cao vai và dài thân chéo của dê Boer thuần nuôi tại Sơn Tây vào lúc 3 tháng tuổi lần lượt là: 54-56 cm, 46-47 cm và 46-48 cm lúc 6 tháng tuổi chiều đo lần lượt là: 62-64 cm, 51-53 cm và 53-55 cm.
3.2.2 Khối lượng của các nhóm dê
Quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc nói chung và đàn dê nói riêng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất của chúng sau này. Vì vậy việc theo dõi khối lượng, đánh giá mức độ tăng trọng trong giai đoạn này là hết sức cần thiết, kết quả theo dõi được trình bày như sau:
Bảng 2. Khối lượng đàn dê qua các tháng tuổi

Tháng
                                       Nhóm dê
Tuổi
                     OB (kg)
                     BB (kg)
        n           X ± SE     n         X ± SE
Sơ sinh
      200
       2,80a ± 0,45
   200
      2,13b ± 0,33
3 tháng
      161
       15,90a ± 0,56
   182
     12,11b ± 1,05
6 tháng
      146
       22,91a ± 0,57
   175
     17,50b ± 1,23
9 tháng
      142
       28,59a ± 0,42
   173
     19,11b ± 0,11
12 tháng
      138
       44,19a ± 0,61
   163
      25,31b ± 0,11

Các số trong cùng một hàng tận cùng bằng một chữ số không khác biệt ở mức P<0,05
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, khối lượng khi 3, 6, 9 và 12 tháng tuổi của nhóm dê lai OB cao hơn dê Bách thảo (P<0,05).
Doãn Thị Gắng và ctv (2004) cho rằng trọng lượng của dê Boer thuần nuôi tại Sơn Tây lúc 3 tháng tuổi là 15,10-16,26 kg; 6 tháng tuổi là 25,87-28,11 kg; lúc 9 tháng tuổi là 34,77-38,50 kg và lúc 12 tháng tuổi là 41,88-46,60 kg.
Như vậy có thể nói rằng trọng lượng của dê lai F1 qua các tháng tuổi tương đương với dê Boer thuần nuôi tại Sơn Tâỵ
Với kết quả trên cho thấy nhóm dê lai OB có trọng lượng cao hơn nhóm dê Bách Thảo qua các tháng tuổi 30,92 – 74,58% và cao nhất là lúc 12 tháng tuổi.
Đinh Văn Bình và ctv (1997) cho rằng, con lai F1 (Jumnapari x dê cỏ, Beetal x dê cỏ, Barbari x dê cỏ) từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi có khối lượng cao hơn dê cỏ từ 7,0-66,0% (đực) và 27,0-72,0% (cái).
3.3 Khả năng sinh sản của đàn dê
Kết quả bảng 3 cho thấy:
Tuổi động dục lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu của các nhóm dê BB và OB dao động từ 209,75 – 225,59 ngày và 410,0-421,6 ngày không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các giống và địa điểm chăn nuôi.
Khoảng cách lứa đẻ của nhóm dê OB cao hơn nhóm BB sai khác này có ý nghĩa ở mức P<0,05.
Bảng 3.Chỉ tiêu sinh sản của dê lai Boer với Bách thảo (OB) và Bách thảo (BB)

Chỉ tiêu
                      Nhóm dê
             OB
           BB
n
X ± SE
n
X ± SE
Tuổi động dục lần đầu (ngày)
26
     225,59 ± 10,2
 90
    209,75 ± 9,7
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
26
     421,60 ± 15,8
 90
   410,00 ± 15,0
Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
15
     270,50a ± 16,1
 141
   210,01b ± 12,1
Số con/lứa
40
       1,32 ± 0,03
 176
       1,58 ± 0,06

Các số trong cùng một hàng tận cùng bằng một chữ số không khác biệt ở mức P<0,05
Kết quả nuôi thử nghiệm giống dê Boer thuần tại Sơn Tây cho biết: tuổi động dục lần đầu là 414,5 ngày; khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 325 ngày (Doãn Thị Gắng và ctv, 2004). Như vậy con lai OB có tuổi động dục lần đầu và khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn dê Boer thuần.
3.4 Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống của nhóm dê lai OB và BB nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Gia súc lớn và tại các trang trại qua các giai đoạn tuổi từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi đạt tỷ lệ từ 86,05 – 99,05% thấp nhất là tỷ lệ nuôi sống của nhóm OB giai đoạn sơ sinh-3 tháng tuổi (86,05%).
Qua mỗi giai đoạn tuổi tỷ lệ nuôi sống của các nhóm dê lai SB và BB là trên 90%, tỷ lệ sống cao nhất là giai đoạn 12-24 tháng tuổi (98%), kế đến là 6-12 tháng tuổi (trên 95%) và sau cùng là sơ sinh-6 tháng trên 90% (Đậu Văn Hải, 2001).
4. KẾT LUẬN
Dê lai giữa giống Boer với Bách thảo (OB) có đặc điểm ngoại hình (màu sắc, hình dáng tai, tính trạng có) giống dê bố mẹ.
Kích thước các chiều đo (vòng ngực, dài thân chéo, cao vai) của nhóm dê lai F1 OB lớn hơn dê Bách thảo qua các tháng tuổi.
Khối lượng cơ thể của dê lai OB khi 3 tháng tuổi 15,90 kg; 6 tháng tuổi 22,91 kg; 9 tháng tuổi 28,59 kg và lúc 12 tháng tuổi 44,19 kg cao hơn nhóm BB.
Tuổi động dục lần đầu và tuổi đẻ lần đầu giữa các nhóm dê OB và BB không có sự sai khác, tuy nhiên khoảng cách lứa đẻ của nhóm dê lai OB cao hơn nhóm BB khoảng 60,4 ngày.
Tỷ lệ nuôi sống của đàn dê lai thấp nhất là giai đoạn từ sơ sinh – 3 tháng tuổi (86,05%) và 4 - 6 tháng (91,12 tuổi %).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đinh Văn Bình, Nguyễn Thiện và Nguyễn Quang Sức, 1997. Kết quả nghiên cứu nuôi dưỡng ba giống dê sữa Ấn Độ qua hơn hai năm tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây. Tạp Chí Người Nuôi Dê. Hội nuôi dê Hà Tây Việt Nam. Tập II, số 1. 1997, trang 5-25.
Doãn Thị Gắng, Đinh Văn Bình, Chu Đình Khu, Phạm Trọng Bảo và Đỗ Thị Thanh Vân, 2004. Kết quả bước đầu đánh giá khả năng sản xuất của giống dê chuyên thịt Boer nhập về từ Mỹ nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tâỵ Trang 309-315. Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y (phần chăn nuôi gia súc) ngày 8-9/12/2004. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội 2004.
Đậu Văn Hải, 2001. Khảo sát khả năng sản xuất của một số nhóm dê lai F1 giữa giống Saanen, Alpine với Bách thảo và Barbari tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Chăn nuôi Sông Bé. Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nông nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh 2001.
Nguyễn Thị Mai, 2000. Chọn lọc nhân thuần dê Bách thảo và thử nghiệm lai pha máu với dê sữa cao sản ngoại. Luận án Tiến sĩ nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh 2000.
Lê Văn Thông, 2005. Nghiên cứu một số đặc điểm của giống dê cỏ và kết quả lai tạo với giống dê Bách thảo tại Vùng Thanh Ninh. Luận Văn Tiến sĩ nông nghiệp chuyên ngành chăn nuôi động vật nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam 2005.